
Từ chiến trường Quảng Trị đến nhà tù Phú Quốc
Ở tuổi 81, ông Lê Văn Phước (trú tại TDP Trung Quý, phường Thành Sen) vẫn giữ ánh mắt rắn rỏi và giọng nói đanh thép như những ngày cầm súng ra trận. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng trong ông, ký ức về một thời khói lửa và đặc biệt là những ngày bị giam cầm tại nhà tù Phú Quốc vẫn chưa bao giờ phai mờ.

Năm 1961, vừa tròn 17 tuổi, ông Phước tình nguyện lên đường nhập ngũ. Sau hai năm chiến đấu, ông trở về quê nhà làm việc tại Lâm trường Hương Sơn, rồi lập gia đình với bà Trần Thị Đào. Tháng 5/1965, khi Tổ quốc cần, ông lại xung phong vào chiến trường miền Nam. Là chiến sĩ Đại đội 4, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 812, Sư đoàn 324B, ông chiến đấu tại Quảng Trị - nơi ác liệt bậc nhất thời bấy giờ. Nhờ lòng dũng cảm, gan dạ, ông được giao nhiệm vụ Tiểu đội phó Pháo binh.

Trong một trận chiến năm 1967, ông bị thương nặng và rơi vào tay địch. Sau thời gian điều trị tại Đông Hà (tỉnh Quảng Trị), ông bị địch đưa về nhà lao Đà Nẵng để tra khảo. 6 tháng sau, do bị xếp vào danh sách “ngoan cố”, ông bị đưa tới nhà tù Phú Quốc (nay thuộc tỉnh An Giang) - nơi được mệnh danh là “địa ngục trần gian”.
Tại đây, ông bị giam ở khu nhà giam số 10, khu 1, nơi tập trung những chiến sĩ kiên cường nhất. “Chúng dùng roi cá đuối, dây điện, chày gỗ để đánh đập, tra khảo. Có lần tôi bị đánh 15 roi cá đuối liên tiếp vào lưng, chân tay sưng vù, không ăn được. Đồng đội phải đút từng thìa cháo” - ông Lê Hữu Phước kể.

Trong tù, ông cùng hơn 10 đồng chí bí mật lập kế hoạch vượt ngục, dùng muỗng inox đào hầm vào ban đêm, tích trữ cơm giã nhỏ giấu trong tay áo. Khi hầm được hơn 5m, chuẩn bị hoàn tất, kế hoạch bị phát hiện. Cả nhóm bị tra tấn dã man. “Không ai trong chúng tôi khuất phục, không một ai khai tổ chức” - ông nhớ lại.
Giữa ngục tù, đêm Quốc khánh vẫn bừng lên kiêu hãnh
Trong muôn vàn ký ức về những năm tháng tù đày, đêm 2/9/1969 mãi là khoảnh khắc thiêng liêng không thể nào quên với người lính già. Khi đó, giữa phòng giam tối om, thân thể đau đớn vì bị tra tấn, một giọng nói vang lên: “Hôm nay là Quốc khánh 2/9, chúng ta chào cờ và hát Quốc ca”.


Không lá cờ, không lễ đài, nhưng tất cả tù nhân đều cố đứng dậy, vịn vai nhau, mặt hướng về phía Bắc - nơi có Quảng trường Ba Đình. Họ hát nhỏ thôi, đủ để không bị phát hiện, nhưng trong tim là ngọn lửa rực cháy của lòng yêu nước: “Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc…”.
Giữa bốn bức tường lạnh lẽo, lời hát ấy không chỉ là biểu tượng của khát vọng tự do mà còn là sự khẳng định: những con người bị xiềng xích vẫn chưa bao giờ bị khuất phục. Chỉ vài ngày sau, tin Bác Hồ từ trần lan tới trại giam. Cả ngàn tù nhân lặng đi, rồi òa khóc.
“Tôi không tin nổi. Nhưng rồi tất cả cùng thề: còn sống là còn chiến đấu cho lý tưởng của Bác!” - ông Phước xúc động.

Tháng 3/1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ông được trao trả tù binh. Trở lại đời thường, ông cùng vợ xây dựng lại mái ấm, sinh được 5 người con. Dù thương tật nặng 61% nhưng ông vẫn lao động, cống hiến, sống giản dị và gương mẫu.
Với những đóng góp lớn lao, ông Lê Văn Phước vinh dự nhận nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Kỷ niệm chương “Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày”, Huân chương Kháng chiến hạng Ba do Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch nước trao tặng.

Ông Dương Đình Bình - Bí thư Chi bộ TDP Trung Quý, phường Thành Sen cho biết: “Ông Phước hiện là thương binh hạng 2/4, đang được hưởng trợ cấp hằng tháng và đã nộp hồ sơ đề nghị hưởng chế độ dành cho người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Ông Phước là tấm gương mẫu mực, sống giản dị, chan hòa, được mọi người quý trọng. Ông luôn nhắc nhở con cháu biết ơn thế hệ đi trước, sống có trách nhiệm với quê hương”.
Giữa bóng tối của địa ngục trần gian, đêm 2/9 năm ấy, những lời hát Quốc ca khẽ vang lên chính là biểu tượng sáng nhất của tinh thần Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức ấy vẫn sống trong tim người lính già như một lời nhắc nhở: Tự do hôm nay được đánh đổi bằng máu, nước mắt và lòng kiêu hãnh của những người đi trước.